Giới thiệu NEAB

Bối cảnh

Cơ sở pháp lý

    Cơ sở pháp lý tổ chức xây dựng Đề án là căn cứ vào định hướng, chủ trương của Đảng, Nhà nước và nhiệm vụ của Chính phủ giao Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) chủ trì, cụ thể như sau:

    – Quyết định số 553/QĐ-TTg ngày 24 tháng 3 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển công nghiệp sinh học đến năm 2030.

    – Quyết định 2117/QĐ-TTg ngày 16tháng 12 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục công nghệ ưu tiên nghiên cứu, phát triển và ứng dụng để chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

    – Quyết định số 569/QĐ-TTg ngày 11 tháng 5 năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030.

    – Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 30tháng 01 năm 2023 của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới.

    – Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

    – Quyết định số 374/QĐ-TTg ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt đề án phát triển hệ thống trung tâm đào tạo xuất sắc và tài năng về công nghệ 4.0 đến năm 2030.

    – Quyết định Số: 1131/QĐ-TTg ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ về Ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược và Nhóm công nghệ chiến lược theo lĩnh vực.

    – Công văn số 3438/BGDĐT-KHCNTT ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ, giải pháp của Quyết định số 374/QĐ-TTg, Đại học Cần Thơ (ĐHCT) được Bộ GDĐT giao nhiệm vụ triển khai xây dựng mạng lưới trung tâm đào tạo xuất sắc và tài năng lĩnh vực Công nghệ sinh học trong nông nghiệp, khu vực phía Nam.

    Phát triển của Công nghệ sinh học (CNSH) và CNSH trong nông nghiệp

      Vào đầu thế kỉ XX, sự phát triển mạnh mẽ của sinh học phân tử đã dẫn đến sự ra đời của các lĩnh vực khoa học mới như khoa học hệ gen Gemomics), khoa học hệ protein (Proteomics) và khoa học hệ chất chuyển hoá (Metabolomics). Từ đó, kéo theo sự bùng nổ của các ứng dụng CNSH.

      Các ứng dụng đó tạo ra các phân ngành như CNSH y dược, CNSH công nghiệp, CNSH nông nghiệp, CNSH thực phẩm, CNSH môi trường và tin sinh học.

      Tốc độ tăng trưởng CNSH trên toàn thế giới từ năm 2015 đến năm 2020 là 1,3%. Thị trường CNSH toàn cầu đã đạt 752.88 tỷ USD vào năm 2020, trong đó theo phương diện ứng dụng thì lĩnh vực y tế chiếm tỷ lệ cao nhất (48,64%); theo phương diện công nghệ thì công nghệ mô và tái tạo mô, công nghệ giải mã gen chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp theo là thử nghiệm dựa vào tế bào (cell-based assays), công nghệ lên men, công nghệ nano, công nghệ sắc ký và công nghệ PCR.

      Theo dự báo giai đoạn 2021-2028 thì tốc độ tăng trưởng sẽ đạt 15.83%, trong đó theo phương diện ứng dụng thì tin sinh học sẽ có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất đạt 21,2%; theo phương diện công nghệ thì CNSH nano đạt CAGR là 16,8%. Thị trường CNSH năm 2020 chủ yếu tập trung ở Bắc Mỹ (chiếm 44,19%), tuy nhiên theo dự báo thì khu vực Châu Á Thái Bình Dương sẽ có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất với CAGR đạt 16.8% giai đoạn 2021-2028.

      CNSH được ứng dụng mạnh mẽ trong nông nghiệp, y tế, môi trường, an ninh quốc phòng, đặc biệt là trong công nghiệp chế biến. Việc ứng dụng CNSH trong công nghiệp chế biến được coi là chìa khóa công nghệ để phát triển kinh tế trong tương lai, tập trung vào các ngành hàng, sản phẩm tiêu dùng với quy mô công nghiệp, số lượng nhiều để cung ứng cho nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của con người.

      Đối với CNSH trong nông nghiệp, bao gồm nhiều lĩnh vực, trong đó có chọn tạo giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản, quản lý dịch bệnh, cải thiện đất đai và sản xuất các chế phẩm sinh học. Cụ thể, các lĩnh vực quan trọng bao gồm:

      (i) Chọn tạo giống cây trồng và vật nuôi, thủy sản:

      • Sử dụng các kỹ thuật như nuôi cấy mô, kỹ thuật di truyền (công nghệ gen) để tạo ra giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản có khả năng chống chịu sâu bệnh, chịu hạn, mặn, cho năng suất cao và chất lượng tốt.
      • Nghiên cứu và phát triển các giống cây trồng biến đổi gen (GMO) để cải thiện các đặc tính mong muốn.
      • Nghiên cứu đa dạng di truyền sinh vật phục vụ bảo tồn nguồn lợi và phát triển nuôi, trồng.

      (ii) Quản lý dịch bệnh:

      • Nghiên cứu và phát triển các chế phẩm sinh học, vắc-xin, và phương pháp chẩn đoán bệnh cho cây trồng và vật nuôi, thủy sản.
      • Sử dụng các vi sinh vật có lợi để kiểm soát dịch bệnh, giảm thiểu sử dụng hóa chất.

      (iii) Cải thiện đất đai:

      • Nghiên cứu và sử dụng vi sinh vật có lợi để cải thiện độ phì nhiêu của đất, tăng khả năng hấp thụ dinh dưỡng của cây trồng.
      • Sản xuất và sử dụng phân bón sinh học, giúp giảm thiểu tác động tiêu cực của phân bón hóa học đến môi trường.

      (iv) Sản xuất các chế phẩm sinh học:

      • Sản xuất các loại phân bón sinh học, thuốc trừ sâu sinh học, và các chế phẩm xử lý môi trường.
      • Nghiên cứu và phát triển các loại thức ăn chăn nuôi, thủy sản chứa probiotic, enzyme, hoạt chất sinh học giúp tăng cường sức khỏe và năng suất vật nuôi, thủy sản.

      (v) CNSH trong chế biến và bảo quản thực phẩm:

      • Sử dụng CNSH để cải thiện chất lượng, giá trị dinh dưỡng và thời gian bảo quản của thực phẩm.
      • Nghiên cứu và phát triển các công nghệ lên men, enzyme, và các chất phụ gia sinh học để sản xuất thực phẩm an toàn và chất lượng.

      Năng lực trong đào tạo, nghiên cứu khoa học (NCKH), chuyển giao công nghệ nói chung và lĩnh vực CNSH trong nông nghiệp nói riêng của Đại học Cần Thơ (ĐHCT)

        ĐHCT được thành lập vào ngày 31/3/1966. Với vị trí trung tâm của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), qua 60 năm hình thành và phát triển, Nhà trường luôn nỗ lực không ngừng để trở thành trung tâm giáo dục và khoa học công nghệ (KHCN) trọng điểm, có vai trò quan trọng hàng đầu trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu, phát triển và triển khai hiệu quả KHCN vào thực tiễn, là động lực vào phát triển kinh tế xã hội của vùng và cả nước.

        Hiện nay, Nhà trường có lực lượng cán bộ, giảng viên mạnh, với gần 1.900 người, trong đó có 1.101 giảng viên, 23 Giáo sư, 182 Phó giáo sư và 647 tiến sĩ; tỷ lệ tiến sĩ/giảng viên: 57.9%. Trong đó, các lĩnh vực CNSH trong nông nghiệp, gồm CNSH – thực phẩm, nông nghiệp, thủy sản, môi trường và khoa học tư nhiên, có lực lượng cán bộ và giảng viên mạnh với 19 Giáo sư, 39 Phó giáo sư và 80 tiến sĩ.

        ĐHCT hiện có 12 đơn vị đào tạo, với 121 ngành đào tạo trình độ đại học, 58 ngành trình độ thạc sĩ và 22 ngành trình độ tiến sĩ, với tổng số trên 45.000 sinh viên và gần 3.000 học viên sau đại học. Trong số này, các đơn vị liên quan đến CNSH trong nông nghiệp (gồm CNSH – thực phẩm, nông nghiệp, thủy sản, môi trường và khoa học tư nhiên) có các ngành đào tạo quan trọng và đặc thù như: Chương trình đào tạo tiên tiến CNSH, Chương trình đào tạo tiên tiến nuôi trồng thủy sản, Chương trình đào tạo chất lượng cao ngành công nghệ thực phẩm; Chương trình đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ bằng Tiếng Anh ngành Công nghệ thực phẩm và ngành Nuôi trồng thủy sản; Chuyên ngành nông nghiệp công nghệ cao…

         Đến nay, ĐHCT đã đào tạo cho vùng ĐBSCL và quốc gia hơn 230.000 cựu sinh viên, thạc sĩ, tiến sĩ thuộc nhiều lĩnh vực, là nguồn nhân lực chất lượng cao chủ chốt cho phát triển vùng ĐBSCL. Đặc biệt, nhiều cựu sinh viên và học viên của Trường đã và đang giữ nhiều trọng trách quan trọng ở các địa phương và lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước.

        Trong NCKH, phát triển và ứng dụng công nghệ, ĐHCT đã nỗ lực không ngừng và đạt nhiều thành tựu quan trọng trong nhiều lĩnh vực, có tác động to lớn đối với sự phát triển của vùng ĐBSCL và quốc gia, đặc biệt về nông nghiệp, thủy sản, môi trường, CNSH, công nghệ kỹ thuật, công nghệ thông tin, kinh tế. Hằng năm, Trường có 500-600 đề tài trong nước và 40-60 dự án quốc tế các lĩnh vực khác nhau. Mỗi năm, ĐHCT có trên 2000 bài báo khoa học, trong đó gồm 550-700 bài ISI/SCOPUS/WoS, chỉ số XB: 1,56 (quốc tế 0,82), đứng hạng thứ 6 cả nước năm 2024; trong số này, các lĩnh vực liên quan CNSH trong nông nghiệp có 400-460 bài ISI/SCOPUS/WoS; đặc biệt lĩnh vực chuyên sâu CNSH có 90-100 bài ISI/SCOPUS/WoS /năm, và lĩnh vực giống cây trồng vật nuôi có 200 bài/năm. Hiện có 80 quy trình công nghệ và 133 chương trình tập huấn sẵn sàng chuyển giao, tập huấn.

        Các hoạt động KHCN, đổi mới sáng tạo (ĐMST), chuyển giao công nghệ, phục vụ cộng đồng luôn năng động và tích cực. Hàng năm, Trường tổ chức chuyển giao hơn 20 qui trình công nghệ mới, tập huấn trên 3.000 người là cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và nông dân về các lĩnh vực khác nhau.

        Hợp tác quốc tế là thế mạnh đặc biệt của ĐHCT với mạng lưới hợp tác trên 300 Viện Trường, doanh nghiệp quốc tế. Các chương trình, dự án quốc tế có ý nghĩa to lớn trong phát triển cơ sở vật chất, nhân lực, đào tạo, KHCN và quản trị cho Trường và thông qua đó góp phần thiết thực cho phát triển vùng ĐBSCL. Đặc biệt là các dự án của Chính phủ Nhật Bản (JICA, 1966-1976; 1993-1996, 1999-2002 và 2015-2022), Chính phủ Hà Lan (MHO, 1996-2004), Chính phủ Bỉ (VLIR, 1998-2008; VLIR-network 2013-2022), Chính phủ Đạn Mạch (DANIDA, 2001-2018), và nhiều dự án hợp tác khác với WORLD BANK, EU, VLIR, DANIDA, WWF, GIZ, CIRAD, USAID, USDA, USGS, DFAT, ACIAR, CSIRO, JICA, JICAS, KOICA, IRRI… Ngoài ra, Trường có hợp tác sâu rộng với hàng trăm cơ quan, Viện Trường, tổ chức và doanh nghiệp trong nước.

        Đặc biệt, với Dự án nâng cấp ĐHCT (2017-2022) do JICA hỗ trợ, ĐHCT đang được tăng cường nguồn lực quan trọng về cơ sở vật chất, nhân lực, KHCN phục vụ thiết thực cho hợp tác và phát triển.

        Với năng lực và đóng góp to lớn của Nhà trường, ĐHCT được các tổ chức quốc tế xếp, hạng 1.218 toàn cầu, và đặc biệt lĩnh vực nông – lâm – thuỷ sản của Trường và duy nhất ở Việt Nam, được xếp hạng 300-350 toàn cầu (theo QS, 2025).